..:: ĐẠI LỄ KHAI ĐẠO NĂM THỨ 93 (12-10-2017) - UNESCO VIỆT NAM cấp Bằng Chứng nhận Ngày Khai Đạo Cao Đài (25/09/2016) ::..

Sám hối - Diệu Nguyên

SÁM  HỐI

Diệu Nguyên

I.  SÁM HỐI LÀ GÌ?

Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm thứ sáu, có ghi lời giảng của Đức Lục Tổ Huệ Năng về hai chữ Sám hối như sau:

“Sao kêu là sám? Sao kêu là hối? Sám là ăn năn lỗi trước của mình. Từ trước mình có những tội ác nghiệp ngu mê kiêu dối, ganh ghét, thảy đều ăn năn hết, mãi mãi chẳng khởi ra nữa; đó kêu là sám. Hối là chừa đi lỗi sau của mình. Từ nay sắp sau, mình có những tội ác nghiệp, ngu mê, kiêu dối, ganh ghét, nay đã giác ngộ, thảy đều dứt luôn, chẳng mắc phải lần nữa, đó kêu là hối. Cho nên xưng là Sám Hối.”

Ngày nay, trong Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn đã giảng về sám hối như sau: “Hôm nay con sám hối là con ăn năn chừa cải, không nên tái phạm nhiều lần, cũng như những đồ trong cổ mửa ra, đừng nên ăn lại.”

Lời dạy của Đức Mẹ hết sức cụ thể. Mẹ đã dùng một hình ảnh trong cuộc sống đời thường của chúng ta để giải thích về sám hối một cách thật rõ ràng và dễ hiểu. Hình ảnh này khiến chúng ta cảm thấy hơi ghê sợ một chút. Trên thế gian này, có người nào dám ăn lại những thức ăn mà mình đã mửa ra không? Chắc chắn là không rồi. Do đó, Đức Mẹ đã dùng hình ảnh này để khuyên dạy chúng ta phải biết ghê sợ những tội lỗi mà mình đã làm, đừng tái phạm nữa, cũng như ghê sợ những thức ăn trong cổ mửa ra không bao giờ ăn lại. Chúng ta suy xét lại những tội lỗi mà mình đã lỡ phạm nhầm và thấy nó rất tai hại cho sự tiến hóa tâm linh của mình, thậm chí những tội lỗi ấy có thể khiến cho chúng ta bị đọa đày nơi địa ngục nên chúng ta ghê sợ chúng và không dám tái phạm nữa.

Tóm lại, qua hai lời giảng trên, chúng ta có thể hiểu rằng sám hối là xác nhận bản thân có tội lỗi (tham lam, ích kỷ, gian dối, giận hờn, ganh ghét, đố kỵ, kiêu ngạo…), xưng tội và xin thề cải lỗi làm lành. Và để cho việc sám hối có tác dụng hữu hiệu đối với sự tu tiến, ta phải luôn ghi nhớ lời Thầy dạy: “Sám hối Thầy nói nơi đây là tự giác trở về với linh giác, chớ không phải sám hối là đọc kinh nghe các con”, có nghĩa là việc sám hối chỉ thực sự hữu ích khi chúng ta thành thật ăn năn cải sửa lỗi lầm.

Tự giác trở về với linh giác nghĩa là mình tự giác ăn năn chừa cải những tội lỗi mà mình đã làm để trở về với linh giác là cái bổn linh chơn tánh mà Đức Thượng Đế đã ban phát cho con người. Có như vậy thì việc sám hối mới có ý nghĩa chứ không phải sám hối là tụng kinh. Điều này không có nghĩa là Thầy bảo chúng ta đừng tụng kinh sám hối mà ý Thầy muốn dạy rằng tụng kinh sám hối phải biết chú tâm ghi nhớ lời kinh dạy để sửa chữa lỗi lầm thì việc tụng kinh sám hối mới có tác dụng, chứ nếu chúng ta tụng kinh sám hối như con vẹt, đọc làu làu mà không chịu sửa mình theo lời kinh dạy, lỗi cũ vẫn cứ tái phạm hoài thì cho dù ta có tụng hàng vạn biến kinh Sám hối cũng hoài công vô ích mà thôi, không có tác dụng gì đối với sự tiến hóa tâm linh của mình cả.

II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI SÁM HỐI

1. Đối với người ở thế gian

Đức Đông Phương Lão Tổ dạy:

Ở đời mạt kiếp này, đã là người thì không ai khỏi lỗi. Nhích chơn hả miệng đã gây nên tội lỗi rồi, cần gì phải hành động.

Người ở thế gian không ai mà không mắc phải lỗi lầm. Một cái nhích chơn thôi cũng đã gây nên tội rồi. Thật vậy, khi bước đi trên đường chúng ta có thể vô tình giẫm đạp các loài côn trùng hay thảo mộc, tức là đã gây nên nghiệp sát sanh rồi. Do đó trong bài kinh đọc khi đi đường có đoạn: “Côn trùng thảo mộc vô can phạm nhầm/ Bạch Thầy con thiệt vô tâm/ Cầu xin Thượng Phụ ân thâm độ cùng.”

Đức Lão Tổ bảo hả miệng cũng gây nên tội: Chỉ cần nói một lời vô tình làm người khác buồn phiền là chúng ta đã gây nên nghiệp rồi, hoặc nói một lời thất đức thì cũng bị ngàn năm đọa đày như lời cổ nhân đã dạy: “Nhứt ngôn thất đức thiên niên đọa”. Do đó, chúng ta thấy rằng lời nói vô cùng hệ trọng và cần phải hết sức chú ý cẩn thận lời nói. Thuở mới khai Đạo, Đức Chí Tôn đã dạy rằng: “Thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể, các con khá nhớ.” Chúng ta chỉ mới nói chứ chưa làm, chẳng hạn như dọa người khác: “Lát nữa ra ngoài rồi biết tay tao, tao quánh mày nhừ xương cho mà coi”, chỉ dọa thôi chứ chưa thực hiện, nhưng trọng hình đồng thể, nghĩa là nói và làm, tội cũng như nhau.

Do đó, cần phải sám hối, vì nếu không sám hối ăn năn chừa cải thì tội lỗi cứ mãi chất chồng, đến ngày thoát xác phải chịu luân hồi chuyển kiếp, hoặc đọa sa địa ngục A tỳ.

Vì thế, Đức Chí Tôn đã dạy: “Mỗi khi đứa nào lầm lỡ một việc gì thì ráng mà sám hối ăn năn.”

Sám hối giúp cho chúng ta ngày càng trở nên thánh thiện hơn. Chính vì thế mà Tân luật đạo Cao Đài, phần Đạo pháp, chương IV, điều thứ Hai Mươi Sáu đã quy định như sau: “Trong bổn đạo, ai có phạm luật pháp về mấy điều khoản nhẹ, thì về quyền người làm đầu trong họ phân xử và đặng răn phạt quỳ hương tụng kinh sám hối.”

Trong kinh Sám Hối, từ câu 425 đến câu 429, Đức Quan Âm Bồ Tát cũng đã dạy:

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn,

Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt năm hằng chớ lơi.

Riêng đối với người tu học, nếu không thường xuyên xét mình sám hối thì tu không tiến, học không thông, hành đạo bị trở ngại như lời của Đức Tề Thiên Đại Thánh đã dạy: “Sám hối được thì nghiệp chướng có thể giải được một phần ba, còn không thì nặng nề, tu không tiến, học không thông, hành đạo bị trở ngại. Buộc phải sám hối vì ai mà khỏi lỗi…”

Đức Tề Thiên Đại Thánh dạy rất rõ: nếu chúng ta biết sám hối tội lỗi thì nghiệp chướng của mình sẽ được giảm đi một phần ba, tu mới có thể tiến được, học mới có thể thông suốt được, và việc hành đạo mới không bị trở ngại khảo đảo. Bằng không thì đường tu cứ bị ì ạch nặng nề không tiến bộ. Và Đức Tề Thiên Đại Thánh bảo ai cũng phải sám hối vì cõi thế gian chẳng có ai mà không có lỗi. Điều này cũng đã được Đức Quan Âm Bồ Tát dạy trong kinh Sám Hối, từ câu 425 đến câu 429:

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn,

Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt năm hằng chớ lơi.

Vậy, nếu người tu không siêng năng sám hối thì khó mong tránh khỏi tội tình và nếu không tránh được tội, không giải được nghiệp thì làm sao chúng ta có thể tiến hóa lên hàng Thần Thánh Tiên Phật. Do đó, sám hối là một điều hết sức cần thiết cho người còn sống trên cõi thế.

2. Đối với các vong hồn chưa siêu thoát nơi cõi vô hình hoặc bị đọa địa ngục thì Sám hối là điều kiện cần thiết để các chơn hồn có thể thoát khỏi Phong Đô địa phủ. Thật vậy, trong đạo Cao Đài, mỗi khi dọng Bạch Ngọc chung minh, người dọng chuông đọc câu kệ như sau:

Thần chung thính hướng phóng Phong Đô

Địa Tạng khai môn phóng xá cô

Tam kỳ vận chuyển Kim Quang hiện

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

Bài kệ này có ý nghĩa rằng: Khi tiếng chuông thần diệu vang xa đến tận cõi Phong Đô địa phủ để đánh thức lương tâm của các chơn hồn đang bị đọa đày nơi ấy thì Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát là Đấng cai quản cõi địa ngục sẽ khai mở cửa Phong Đô để phóng thích các âm hồn nào biết sám hối ăn năn tội lỗi. Vậy, nếu chơn hồn nào không biết sám hối ăn năn chuyển tâm giác ngộ thì cứ mãi bị giam hãm nơi địa ngục.

Theo lời dạy của Đức Bát Nương Tiên Nữ thì trong vũ trụ này có một cõi gọi là cõi Âm quang. Đức Bát Nương dạy về cõi Âm quang ấy như sau: “…nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, (…) là nơi để cho các chơn hồn giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).

Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi quy Thiên, phải đi ngang qua đó.

Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn.

Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm.

Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.

Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu thì kinh khủng chẳng cùng. Nếu để cho chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi thiêng liêng và về cùng Thầy đặng.

Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng.

Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các chơn hồn, dầu sa đọa luân hồi, cũng có người giúp đỡ.”[1]

Qua lời dạy của Đức Bát Nương Tiên Nữ, chúng ta biết rằng Âm quang là cái quan ải, các chơn hồn khi xuất ra khỏi xác phàm đều phải đi qua cửa ải đó. Những hồn nào nhẹ nhàng thanh khiết không phạm tội nơi thế gian thì sẽ được tiếp tục đi lên các cõi cao hơn, còn các chơn hồn nào lúc còn sống ở thế gian gây nhiều tội lỗi sẽ phải ở lại cõi âm quang để định tĩnh tinh thần mà ăn năn sám hối tội tình. Đức Bát Nương bảo rằng có nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng.

Và Đức Thất Nương Tiên Nữ nhận xét rằng:

“Nơi cõi Âm quang, nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu thảm lạ thường.” Đó là vì các chơn hồn ấy không chịu xét suy sám hối để chuyển hóa tâm mình nên cứ mãi chôn chặt linh hồn nơi cõi âm quang, thật là tội nghiệp.

Do đó, các chơn hồn cần phải giác ngộ, sám hối, chuyển tâm thì mới có thể thoát khỏi Phong Đô địa phủ.

Vì thế, trong nghi lễ tang ma của đạo Cao Đài, các đồng nhi thường tụng kinh sám hối cho vong hồn người quá vãng nghe. Trong tháng 7 âm lịch, chúng ta cũng nên thường xuyên đọc kinh Sám hối cho các chơn hồn nghe kinh mà giác ngộ giải thoát.

III. ÍCH LỢI CỦA VIỆC SÁM HỐI

1.Thành tâm sám hối ăn năn chừa cải thì tội lỗi sẽ được tiêu trừ.

Phần mở đầu của Sám hối văn (đọc lúc nhập các khóa tịnh) có ghi:

Huyền Hoàng mở Đạo độ thế nhân thoát khỏi mê tân

Chánh Nhứt truyền phương khuyên hành giả sám nhương tội ác

Ai không lầm lạc, nhìn lỗi tội tiêu.

Tất cả con người nơi cõi thế gian không nhiều thì ít đều có lỗi lầm, tuy nhiên, như lời trong Sám hối văn nêu trên thì nếu đã lỡ phạm lỗi mà biết nhìn nhận lỗi lầm của mình và ăn năn sám hối thì tội lỗi cũng được tiêu trừ.

Chuyện “Thập bát La hán” trong bộ “Truyện cổ Phật giáo” kể rằng, ở một vùng nọ có nhà ông phú hộ rất giàu có. Ông là người hiền lành nhân đức và trong nhà có nuôi một con ngựa. Một hôm, bỗng nhiên con ngựa biết nói tiếng người và thưa với ông rằng: Ông ơi, khuya nay sẽ có băng cướp 18 tên đến viếng nhà ông đó. Ông hãy bảo gia nhân tối nay đừng đi ngủ mà hãy mở toang cửa ngõ và thắp đèn sáng choang cả ngôi nhà. Ông cũng bảo họ hãy chuẩn bị sẵn một cỗ bàn gồm 18 chỗ ngồi, 18 cái chén, 18 đôi đũa và 18 phần ăn ông nhé.

Ông phú hộ hết sức ngạc nhiên hỏi con ngựa: Ủa, ta nuôi con bao lâu nay chưa hề nghe con nói năng gì, sao bỗng nhiên hôm nay con lại biết nói tiếng người?

Con ngựa đáp: Thưa ông, kiếp trước con cũng là người như ông và con đã mang một cái nợ rất lớn đối với ông nên kiếp này con phải đầu thai làm ngựa để đền trả nợ xưa. Tuy nhiên, vì ông là một người quá nhân từ nên ông chẳng những không đày đọa bắt con làm lụng cực khổ mà còn nuôi nấng con tử tế, cho ăn no, ngủ chỗ êm ấm nữa. Do đó mà con không thể trả được nợ xưa. Hôm nay con biết băng cướp 18 tên sẽ đến cướp nhà ông nên con báo cho ông biết để nhân cơ hội này con đền trả nợ xưa.

Ông phú hộ cảm ơn con ngựa và làm theo lời nó mách bảo. Quả nhiên, đêm đó vào giờ Tý canh ba, băng cướp khét tiếng 18 tên ấy đến viếng nhà ông. Bọn họ thật ngạc nhiên khi thấy cửa ngõ nhà ông phú hộ mở toang và ông phú hộ như đã chờ sẵn từ lúc nào bước ra nghênh tiếp mời họ vào nhà. Họ lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy trong nhà đã dọn sẵn 18 phần ăn để thết đãi họ. Tên đầu đảng hỏi ông phú hộ: Sao ông biết trước bọn tôi sẽ đến viếng nhà ông? Ông phú hộ kể lại đầu đuôi những điều con ngựa nói với ông ban sáng. 18 tên cướp nghe xong liền tỉnh ngộ. Bọn họ nói với nhau: Con ngựa này kiếp trước không biết đã gây nên tội tình gì mà kiếp này phải chịu mang lông đội sừng để đền trả. Còn tụi mình đã từng gây ra không biết bao nhiêu là tội tình: nào cướp của giết người, nào phóng hỏa đốt nhà, không có tội lỗi ghê gớm nào mà bọn mình không dám làm. Vậy thì kiếp sau có lẽ bọn mình không được làm ngựa nữa mà chắc phải làm giun làm dế hay thậm chí bị đọa đày nơi địa ngục A tỳ nữa kia. Thế là cả băng cướp 18 người đồng lòng cải tà quy chánh và nguyện xin chư Phật chư Bồ Tát chứng giám cho lòng thành ăn năn sám hối của mình. Họ bỏ tất cả vũ khí mà họ đã từng sử dụng để gây nên tội ác vào trong một nồi nước sôi và nguyện rằng: Nếu chư Phật chứng giám cho lòng thành sám hối của chúng con thì xin hãy cho tất cả khí giới này đều tan biến cả. Họ quỳ suốt đêm trước bàn thờ Phật và thành kỉnh tụng kinh, sám hối. Đến sáng hôm sau, điều mầu nhiệm đã xảy ra. Cả 18 người đều vui mừng khôn xiết khi mở nồi nước sôi ra và thấy rằng tất cả khí giới đều đã tan biến hết. Về sau, cả 18 người đều chí quyết tu hành và đồng đắc quả A La Hán. Chính vì thế mà trong dân gian, người ta vẫn thường nói rằng: Không một vị Bồ tát nào mà không có quá khứ, không một tên cướp nào mà không có tương lai.

Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng những ai đã lỡ lầm lỗi mà biết ăn năn sám hối thì tội lỗi sẽ được tiêu trừ.

Đức Thất Nương Tiên Nữ cũng đã dạy về ích lợi của sám hối như sau:

Âm quang là nơi Thần Linh Học gọi là nơi Trường đình của chư hồn giải thể hay nhập thể.

Ðại Từ Phụ đã định nơi ấy cho Phật gọi là Tịnh Tâm Xá, nghĩa là nơi của chư hồn đến đó đặng tịnh tâm xét mình, coi trong kiếp sanh bao nhiêu phước tội.

Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình. Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang.

Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng lánh xa cửa Âm quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.

Ôi! Tuy hồng ân của Ðại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy. Ðó là mấy đạo hữu tín đồ bị thất thệ.

Em trông thấy bắt đau lòng, phái nữ lại là phần đông hơn hết.

2. Lời dạy của chư Phật Tiên trong Kinh Sám hối giúp cảnh tỉnh khuyên răn người đời.

- Đối với người phạm tội, đọc kinh để biết cải hối sửa mình.

- Đối với người chưa phạm tội thì sẽ biết tránh tội.

Những lời lẽ trong kinh Sám hối có tác dụng khuyên răn, cảnh tỉnh người đời như:

Làm con phải trau giồi hiếu đạo

Trước là lo trả thảo mẹ cha

Lòng thành thương tưởng ông bà

Nước nguồn cây cội mới là tu mi.

Đây là lời đạo đức khuyến nhủ con người phải biết giữ tròn đạo hiếu đối với ông bà cha mẹ.

Kinh Sám hối còn dạy:

Con bất hiếu xay cưa đốt giã

Mổ bụng ra phanh rã tim gan

Chuyển thân trở lại trần gian

Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

Người thế gian nghe những lời kinh này thì chắc chắn phải biết khiếp sợ mà không dám phạm vào tội bất hiếu nữa.

Càng tụng kinh, chúng ta càng thấm thía những lỗi lầm của mình và từng câu kinh liên tiếp nhau sẽ là “dòng nước ma ha rửa dần tội lỗi, là phất trần quét sạch bụi vô minh.” Như thế, việc sám hối giúp cho người tu rửa sạch phàm tâm để thánh tâm được phát lộ. Đức Đông phương Lão Tổ đã dạy: “Lễ Sám hối sẽ là một thang thuốc bổ khử độc diệt trùng, chữa bệnh trầm kha cho các đệ tử.”

3. Thành tâm sám hối cũng sẽ giúp cho Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng, giúp cho các chơn hồn được giải thoát.

Trong bài Khen ngợi kinh Sám hối, Đức Đông Phương Lão Tổ dạy rằng:

Ngày ngày tập sửa tánh thành,

Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn năn

Một là hối ngộ tội căn

Hai là cầu đặng siêu thăng cửu huyền.

Một khi mình đã thức tỉnh hối ngộ tội căn thì bản thân sẽ được tinh tấn trên bước đường tu hành, lập thêm công, bồi thêm đức để hồi hướng cho Cửu huyền thất tổ được siêu thăng. Ngoài ra, việc tụng kinh Sám hối cũng rất ích lợi cho các vong linh chưa được siêu thoát. Chung quanh ta lúc nào cũng có các chơn hồn đang tu học chờ ngày Thượng Đế ban ơn. Do đó, khi ta tụng kinh Sám hối các chơn hồn ấy cũng được nghe kinh mà giác ngộ giải thoát. Tập hạnh từ bi của Thầy, chúng ta nguyện hồi hướng công đức trì kinh sám hối cho tất cả chúng sanh cùng hưởng và cùng tu tiến đặng siêu thăng tịnh độ. Điều này cũng đã được xác định qua câu chuyện của bà hoàng hậu Hy Thị, vợ của Lương Võ Đế. Lương Võ Đế làm vua ở Trung Hoa từ năm 502 đến năm 549 và là người rất hâm mộ Phật pháp. Tuy nhiên, hoàng hậu Hy Thị lại là người không tốt. Mặc dù được sủng ái nhưng Hy Thị luôn đố kỵ, ganh ghét cung phi, độc ác với mọi người. Thấy vua sùng kính đạo Phật và kỉnh trọng chư tăng, bà thêm căm ghét các sư, hủy báng Tam Bảo.

Tương truyền một hôm Lương Võ Đế thỉnh Hòa Thượng Chí Công và 500 sư vào cung để cúng dường. Hoàng Hậu Hy Thị bèn sai người giết chó, lấy thịt làm nhân bánh bao dâng cho sư. Sau khi chư tăng thọ trai xong và trở về chùa, Hy Thị tấu trình: “Xưa nay bệ hạ tin các hoà thượng đã tu chứng nên cung kính cúng dường. Vừa rồi nhân bánh bao làm bằng thịt chó mà họ không biết, đã ăn hết, vậy thì đâu phải đã chứng đạo!”

Lương Võ Đế nghe xong nổi giận, bèn lên ngựa kéo quân đến chùa để chém chư tăng. Vừa đến cổng tam quan đã thấy Hòa Thượng Chí Công đứng chờ bên gốc bồ đề, vua hỏi: Hòa Thượng ra đây làm gì?”

Hòa Thượng đáp: Ra đợi bệ hạ chém đầu, vì sợ máu đổ trong chùa làm ô uế cửa Phật.”

Kinh ngạc, Lương Võ Đế hỏi: “Có tài tiên tri như vậy mà sao trưa nay Hòa Thượng và chư tăng không biết nhân bánh bao làm bằng thịt chó?”

Hòa Thượng đáp: “Đêm qua trong lúc thiền định, bần tăng đã biết âm mưu của Hoàng Hậu nên kịp sai chúng tăng làm bánh bao chay giấu trong tay áo tràng bên phải. Khi vào cung thọ trai thì lấy ra ăn, còn bánh bao của Hoàng Hậu cúng dường thì giấu trong tay áo bên trái rồi đem về chùa chôn. Hòa Thượng đưa vua ra chỗ chôn bánh. Cho đào lên thì quả như lời kể. Vua hối hận, tạ lỗi rồi hồi cung. Từ ấy, vua càng thêm kỉnh trọng Hòa Thượng Chí Công, khiến cho Hoàng Hậu Hy Thị càng thêm căm giận. Lòng sân hận nung nấu mãi khiến bà sinh bệnh, lìa trần, đầu thai làm mãng xà. Một hôm, Võ Đế nằm mộng thấy bà tâu rằng: “Khi thiếp còn sống ăn ở bất nhân, tổn vật hại người, làm điều ác độc. Vì cớ ấy nên nay phải làm mãng xà, thân dài, vóc lớn, bò lết không nổi, đói không có chi ăn, khát chẳng có chi uống, cực khổ trăm bề, lại thêm trong chân vảy có độc trùng đeo bám cắn rứt da thịt, đau thắt ruột gan! Xin bệ hạ nghĩ tình xưa nghĩa cũ mà từ bi thỉnh thầy làm chay siêu độ cho thiếp, may nhờ Phật pháp hộ trì, thoát ra khỏi vòng ác báo, thì thiếp cảm ơn đời đời.”

Sáng ra, Lương Võ Ðế truyền lệnh rước các tăng vào triều, hỏi: “Ai có phép chi cứu giải Hoàng Hậu chăng?” Hòa Thượng Chí Công tâu: “Tội của Hoàng Hậu rất nặng, xin bệ hạ hãy lập đàn tràng sám hối mới cứu được.”

Võ Ðế bằng lòng, cầu Hòa Thượng Chí Công soạn ra mười quyển sám hối văn, rồi lập đàn làm chay ba tháng trong cung, cầu siêu cho Hoàng Hậu. Một hôm, trai đàn gần mãn, có mùi hương nồng nã bay khắp trong cung. Võ Ðế ngước mắt nhìn lên trời, thấy một tiên nữ đứng giữa hư không chấp tay tâu rằng: “Thiếp nhờ công đức của chư tăng và bệ hạ cầu sám hối đã thoát kiếp mãng xà sanh về cõi trời Ðao Lợi.”

Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng việc thành tâm sám hối không chỉ cần thiết cho sự tu tiến của người còn sống mà còn giúp cho các chơn hồn bị đọa đày được siêu thoát.

IV. KẾT LUẬN

Qua những điểm phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rõ được sự hữu ích của sám hối trong đời tu hành.

Thượng Đế là Đấng Cha lành đại từ, đại bi, luôn khoan dung tha thứ mọi lỗi lầm của con trẻ một khi chúng thực tâm sám hối ăn năn. Ngược lại, là những người con hiếu thảo, chúng ta cũng phải luôn cố gắng tu sửa thân tâm ngày một thánh thiện, tránh mọi lỗi lầm để Cha Mẹ được vui lòng. Đành rằng “Nhân vô thập toàn”, sống tại cõi trần ô trược này ai mà khỏi lỗi, nhưng không thể cứ phạm lỗi mãi rồi sau đó sám hối cầu xin Thầy tha thứ! Chúng ta nên có một tinh thần sám hối tích cực hơn, một biện pháp hữu hiệu hơn để diệt trừ tội lỗi ngay khi chúng còn là những mầm mống trong tư tưởng. Biện pháp đó chính là sự “kiểm điểm nội tâm hằng ngày hằng giờ hằng phút” song song với việc sám hối, “để kềm chế lòng mình như đang đi trên chiếc cầu vòng bằng ván mỏng bắc qua đại dương không tay vịn. Nếu sơ hở một chút là không phân biệt được cái nào là thiện với ác, thanh với trược, ích kỷ với vị tha, chánh tín với mê tín”,[2] vì nếu:

Rủi ra một phút lỗi lầm,

Sa chơn trái bước ngàn năm đọa đày.[3]

Sau cùng, để có thể tinh tấn trên bước đường tu học hầu tự cứu lấy bản thân, đồng thời góp phần cứu độ Cửu huyền thất tổ và bá tánh chúng sinh trong cả hai cõi sắc không, tất cả Huynh Tỷ Đệ Muội chúng ta hãy cùng ghi nhớ lời dạy của Đức Vạn Hạnh Thiền Sư:

Lòng quyết chí tu hành sớm tối,

Lỡ mảy may lầm lỗi điều chi,

Ăn năn cải hối tức thì,

Cho lòng an định lương tri lố bày.[4]



[1] Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, đàn tháng 11-1932.

[2] Đức Quan Âm Bồ Tát, Minh Lý Thánh Hội, 02-4 Kỷ Dậu (17-5-1969).

[3] Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Vạn Quốc Tự, 02-01 Ất Tỵ (03-02-1965).

[4] Đức Vạn Hạnh Thiền Sư, Minh Lý Thánh Hội, 01-11 Tân Hợi (18-12-1971).

scroll back to top
NAM - THÀNH THÁNH THẤT Nguyên Thánh thất Cầu - Kho
124 - 126 Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP.HCM ĐT: 08.3902.1568 - 0933.323.138 - 0933.333.138
Email: namthanhthanhthat@gmail.com - chidat32@gmail.com