..:: ĐẠI LỄ KHAI ĐẠO NĂM THỨ 93 (12-10-2017) - UNESCO VIỆT NAM cấp Bằng Chứng nhận Ngày Khai Đạo Cao Đài (25/09/2016) ::..

Đặc san

ĐẶC SAN - Sự tiến bộ của linh hồn trong thế giới bên kia

Sự tiến bộ của linh hồn trong thế giới bên kia

Artemus Lamb {Lê-Lộc (Dịch)} Tôn giáo BaHa'i

Nhờ phương tiện gì, linh hồn có thể đạt tiến bộ ở thế giới bên kia?

Điều quan trọng cần nhớ là linh hồn ở trong giai đoạn ba của cuộc hành trình sẽ không có mức độ ý chí tự do như ở giai đoạn hai, trong thế giới vật chất, bất cứ lúc nào lữ khách cũng có thể chọn con đường của mình, có thể quyết định giữa điều thiện và điều ác, có thể hướng về cuộc sống tâm linh hoặc rời xa nó, ở trong thế giới tinh thần thì khác, Đức Abdul – Baha chỉ rõ:

Sự tiến bộ tinh thần của con người trong thế giới thiên thượng, sau khi tách rời khỏi thân thể cát bụi, hoàn toàn chỉ nhờ hồng ân và thiên phúc của Thượng Đế, nhờ sự cầu thay, tức sự cầu nguyện chân thành của những linh hồn khác hoặc nhờ những việc từ thiện và làm tốt đẹp quan trọng được thực hiện vì linh hồn ấy.

… vì con người cần tới Thượng Đế trong thế giới này và họ cũng cần Thượng Đế trong thế giới bên kia. Chúng sinh luôn luôn thiếu thốn, còn Thượng Đế tuyệt đối độc lập, dù ở trong thế giới này, hay ở trong thế giới sắp đến.

Của cải ở thế giới bên kia là gần gũi Thượng Đế, như thế điều chắc chắn là những người ở gần triều đường Thiên thượng được phép cầu thay, và sự cầu thay này được Thượng Đế chuẩn nhận, nhưng sự cầu thay ở thế giới bên kia không giống như sự cầu thay ở thế giới này. Đó là một việc khác, một sự thật khác mà lời nói không diễn tả được.

Người giàu ở thế giới kia có thể giúp ngườ8i nghèo, như người giàu có thể giúp người nghèo ở đây… nhưng hàng hóa của cải của họ là gì; sự giúp đỡ ở thế giới bên kia là gì; đó là sự cầu thay, những linh hồn chưa phát triển phải đạt tiến bộ nhờ sự cầu xin của những người giàu về tâm linh, sau đó, họ có thể đạt tiến bộ do sự cầu nguyện của chính họ.

Đức Shoghi Effendi giải thích rằng những quà tặng và việc thiện thực hiện vì tưởng nhớ tới những người đã qua đời, giúp ích nhiều nhất cho sự phát triển linh hồn của họ ở thế giới bên kia.

Mặt khác, Đức Abdul – Baha cam đoan cùng chúng ta rằng cả những kẻ hành ác tệ hại nhất cũng có thể tiến bộ:

Vì tinh thần con người sau khi rời bỏ hình hài vật chất, có đời sống vĩnh cửu, nên chắc chắn người nào cũng có thể đạt tiến bộ; vì vậy, con người được phép cầu xin sự thăng tiến, sự tha thứ, sự khoan dung, sự từ tâm và ơn phước cho một người sau khi chết, bởi vì sự sinh tồn có khả năng tiến bộ. Đó là lý do tại sao trong các kinh cầu nguyện của Đức Baha’u’llah có xin tha thứ và xá tội cho những người đã qua đời.

Chắc chắn là linh hồn khi sang thế giới bên kia sẽ gặp nhiều điều ngạc nhiên, nhất là đối với những người họ đã biết trong thế giới vật chất, vì trong thế giới tâm linh người ta sẽ nhận biết tình trạng thật của mỗi linh hồn, thường được che giấu trong thế giới này bởi những sự tô điểm vật chất. Đức Abdul – Baha dạy rằng: “sự khác nhau và phân biệt giữa con người sẽ được nhận biết một cách tự nhiên sau khi rời khỏi thế giới hữu hoại này. Nhưng sự phân biệt này không phải về nơi chốn nhưng về linh hồn và lương tâm.

Có thể một linh hồn từng giữ địa vị thật cao và quan trọng trong thế giới vật chất sẽ không được mấy ai biết đến trong thế giới tâm linh, trong khi một linh hồn có vẻ thấp kém và không quan trọng ở trong giai đoạn hai sẽ giữ vị trí cao và có giá trị trong giai đoạn ba của cuộc viễn du của linh hồn là tình trạng tâm linh của chính linh hồn đó.

Thỉnh thoảng có người băn khoan liệu có ích gì cho người ở thế giới vật chất này tìm cách giao tiếp với linh hồn của những người đã sang thế giới bên kia, thế giới bên kia vẫn ở trong thế giới vật chất và Đức Abdul – Baha dạy rằng “thế giới sinh tồn chỉ là một thế giới”, và những người đã siêu thăng có những đặc tính khác với người còn ở trên trái đất, tuy nhiên, không thực sự xa cách nhau. Trong cầu nguyện có sự hòa nhập về cương vị, sự hòa nhập về trạng thái, ngoài việc liệu có thể giao tiếp với nhau, có lẽ những đoạn sau đây trong giáo lý Baha’i sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề tế nhị và có khi gây mâu thuẫn này. Đức Abdul – Baha phán:

Khơi lên những năng lực tâm linh trong khi còn sống trên thế giới này chỉ làm quấy rầy tình trạng linh hồn trong thế giới sắp đến, những năng lực này có thật, nhưng thường không hoạt động trong thế giới này, hài nhi trong bụng mẹ có mắt, tai, tay, chân, v.v… nhưng chúng không hoạt động, tất cả mục đích cuộc sống trong thế giới này là tiến tới thế giới thực tại, ở đó, những năng lực tâm linh sẽ hoạt động, những năng lực ấy thuộc về thế giới ấy.

Đức Shoghi Effendi giải thích:

Điều Đức Abdul – Baha luôn luôn vạch ra trong vấn đề này là những năng lực tâm linh không phải để dùng trong thế giới này, và dĩ nhiên, muốn tạo ra nó ở đây rất nguy hiểm, phải để những năng lực ấy nằm yên, không được khai thác, ngay cả khi chúng ta làm thế với niềm tin chân thành là chúng ta đang giúp đỡ người khác. Chúng ta không hiểu bản chất của những năng lực đó, và chúng ta không có cách gì xác minh điều gì là đúng và điều gì là sai trong những vấn đề này.

Trần-Tiến-Khoa (Sưu tầm)

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

scroll back to top

ĐẶC SAN - ĐỨC PHẬT THÍCH-CA ĐÃ ĐỂ LẠI DI SẢN GÌ CHO THẾ HỆ HẬU SINH?

ĐỨC PHẬT THÍCH-CA ĐÃ ĐỂ LẠI

DI SẢN GÌ CHO THẾ HỆ HẬU SINH?

Trong thực tế cho chúng ta thấy hầu hết mọi người, nhất là giới Phật tử,… và ngay cả các Nhà sư cũng đã hiểu biết, thậm chí hiểu biết một cách cao thâm, và thường hằng thuyết giảng về: Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhơn duyên,… hay đề cập: Luật nhơn quả luân hồi, Từ bi hỉ xả, Sự hiếu thảo,… Những Thánh ngôn, Phật huấn ấy chính là khuôn vàng, thước ngọc mà sau 25 thế kỷ đã trải qua không biết bao nhiêu thế hệ được học tập, suy gẫm, rèn luyện, … và đã chuyển biến lời châu báu quí giá ấy thành hành động cụ thể trong đời sống văn hóa xã hội ngày càng thu hoạch được những hệ quả vô cùng tốt đẹp để phụng sự cho tổ quốc, cho thế giới và cho cả vạn linh sanh chúng.

Sáng ngày 08-04 Ất-Dậu, nhân dịp được nghe giáo sỹ Huệ-Ý thuyết trình đề tài: “Tu theo lời dạy của Đức Thích-Ca Mâu-Ni” đã làm cho tôi được nâng tầm hiểu biết, mở mang kiến thức, nhất là có thêm tri thức về Phật học.

Qua những điều được học, được tai nghe mắt thấy, và một khi (dù là trong khoảnh khắc) dâng hiến tâm hồn và thể xác, chí hy sinh và lòng yếu đuối, sự hiểu biết và điều tăm tối, … của mình xin được trình lên Đức THẾ-TÔN nói riêng, hai Đấng SÁNG-LẬP VŨ-TRỤ cùng chư PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN nói chung. Bỗng nhiên, tôi trực ngộ một số điều … xin được đề cập ra đây, kính xin Chư cao nhân chỉ giáo tôi trên con đường tu học và hành đạo, như sau:

1) Chủ trương hay Học thuyết của Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ vẫn là MỘT

Sau một thời gian dài tu hành theo phương pháp ép xác, nghĩa là không tạo thêm nghiệp mới nữa bằng cách không ăn uống thực phẩm do người đời làm nên, mà Ngài vẫn chưa đắc đạo, thì lúc bấy giờ Đức A-DI-ĐÀ PHẬT đã hóa thân thành cô mục nữ đến và dâng bát sữa cho Ngài. Sau  khi dùng bát sữa ấy, Ngài cảm thấy mình mạnh khỏe hơn, trí óc lại sáng suốt thông minh hơn nhiều so với trước đây. Và từ đó, Ngài sinh hoạt, ăn uống trở lại bình thường, tự nhiên. Hễ có nhơn duyên thì đón nhận, có điều kiện thuận lợi thì ban phát từ hình thức bố thí hay pháp thí (Bố thí Ba-la mật-đa).

Và, Đức LÃO-TỬ thì dạy: “Địa pháp Nhơn, Nhơn pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên”.

Còn Đức KHỔNG-TỬ đã để lại cho đời: “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”, tức là làm bất cứ việc gì không nên nghịch lý với Trời Đất. 

Vậy thì ba vị Đại Tổ sư: Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ đều có cùng chủ trương, hễ cái gì tự nhiên, thuận lý với Trời Đất thì tốt, là con đường đi đến sự đạt Đạo, trở về với Ngôi MỘT.

2) Tại sao Đức THÍCH-CA chưa tròn Nhơn đạo, mà lại đắc Phật Vị?

Xin thưa: “Đại chơn linh của Đức THÍCH-CA đã chiết từ Đại linh quang của Đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ”. Trong đời sống thực tế, Đức Phật Thích-Ca chưa tròn Nhơn đạo: “Đạo làm con, Đạo làm chồng, Đạo làm cha, Đạo làm dân (vì Ngài đã thối thác ngôi Thái tử, và trong tương lai sẽ là Hoàng đế)”. Có một điều đặc biệt là thế gian này hiếm có ai mà đủ đại hùng, đại lực, đại chí, đại bi… dám bỏ cả ngai vàng, điện ngọc, tam cung lục viện, vợ đẹp con ngoan, và về hữu hình sắc tướng (vàng ngọc châu báu,…), và Ngài muốn bất cứ việc gì đều được như ý nguyện. Vậy mà Ngài từ chối. Thật là cao cả và vĩ đại, chỉ có một không hai. Có phải Ngài ham thích làm Phật không? Cũng là không, vì lúc ấy Ngài cũng có biết chư Phật là gì?      Sau khi quyết tâm tu hành, Ngài đã đắc pháp và đắc đạo giải thoát một kiếp làm người trong cõi trần phù du, giả tạm với đại nguyện là phổ độ chúng sanh. Và Ngài đã làm được, khi đắc chứng thành Phật, Đức Thế-Tôn đã trở lại triều đình cứu rỗi cho Phụ thân, Hiền thê, Hoàng tộc,… , mà mọi người tức Vạn linh sanh chúng đều được hưởng một đời sống với tinh thần đạo đức và hạnh phúc; còn đối với tổ quốc, dân tộc thì được hưởng thái bình, an lạc. Còn về mặt tâm linh, Đức Phật cũng đã cứu độ và giải tội các vị trong Cửu Huyền Thất Tổ của Ngài đã phạm luật Thiên điều, được siêu thăng.

Có câu: “Nhất nhơn đắc đạo Cửu Huyền thăng”.

Với thành quả vĩ đại ấy, nên nhân loại đã tôn vinh Ngài là Thế-Tôn, nhưng đối với cõi Thiêng-liêng hằng sống (Cõi Đại Niết-Bàn) thì việc làm phi phàm ấy Ngài đã đắc Phật-vị là CHÁNH-ĐẲNG CHÁNH-GIÁC THIÊN-TÔN, mà từ cổ chí kim, duy nhất chỉ có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA chứng quả ngôi vị cao cả ấy mà thôi.

       Lời bàn thêm:

Từ Bài thuyết trình hôm nay, nhân dịp tôi được nghe, có:

1- Một câu chuyện về nhóm Tăng sỹ đến nghe Đức Phật Thích-Ca giảng pháp. Sau hai lần nhóm Tăng sỹ này đều đến muộn không được thính pháp. Qua tìm hiểu từ vị Tăng lớn tuổi nhất thì Đức Phật được biết Cậu bé La-Hầu-La (hậu duệ của Đức Phật) nghịch phá làm cản trở việc không được nghe giảng đạo. Đức Phật bèn dạy La-Hầu-La: “Con hãy đi lấy chậu nước rửa sạch chân cha…, sau đó hãy lấy nước đã dơ này mà uống…, lấy chậu chứa nước dơ mà làm dụng cụ chứa thức ăn.”

Sau đó, Đức Phật dạy tiếp: “Thân con chẳng khác nào cái chậu này, nước dơ làm cho chậu dơ. Nước dơ chẳng khác nào tâm dơ. Vậy La-Hầu-La, con hãy đừng để tâm dơ, thân dơ thêm lần nào nữa nha!

Từ cốt truyện này đã rút ra được bài học quí giá của Đức Phật dạy cho mọi người chúng ta ngày được thuần thành đạo đức qua hình ảnh cậu bé chỉ mới 8 tuổi. Đứng về phương diện Giáo dục, thì hoàn toàn đúng và tốt. Nhưng về phương diện Số mệnh học thì nhóm Tăng sỹ ấy chưa đủ phước duyên để được nghe Đức Phật giảng pháp, mà đó cũng là bài học về sự chịu đựng, hay tính kiên nhẫn để không phải nản chí ngã lòng. Một dẫn chứng mà người xưa để lại: “Châu-Văn-Vương, một vị vua mà phải lặn lội đến cả ba lần mới thỉnh mời được Khương-Tử-Nha ra giúp dân, giúp nước. Ngược lại, Khương-Tử-Nha phải đợi đến 81 tuổi thì thời cơ mới đến (vận hạn tốt), và phải để Văn-Vương mời chuộng đến lần thứ 3 thì mới đúng nhơn duyên, hợp ý Trời để phụng sự cho nhà Châu. Đó chẳng phải nhơn duyên đã đến, cơ hội đã gặp đó hay sao ?! Còn về Dịch-lý thì: “Thái-Cực sinh Lưỡng nghi, tức là Thái dương và Thái âm (Nghi dương và Nghi âm), Thái dương thì luôn động, còn Thái âm thì tịnh; ở con người, con trai thì hiếu động, nghịch phá, nóng nảy, …, còn con gái thì thùy mị, nhẹ nhàng, êm dịu, … là lẽ tất nhiên, là rất đúng tánh tình của La-Hầu-La, cậu bé trai chỉ mới 8 tuổi..

2- Còn về sự tích Đức Phật Thích-Ca từ trong rừng trở về đem một mớ lá simcapa, các đệ tử gặp Thầy mới nói: “Bạch Thầy lá simcapa trên tay Thầy nhiều quá! Đức Phật bèn hỏi: “Lá simcapa trên tay ta nhiều hay lá này trong rừng nhiều?”. Một vị Đại đệ tử trả lời: “Bạch Thầy lá ấy trong rừng nhiều”. Đức Phật giảng tiếp: “Sự hiểu biết của các ngươi như mớ lá trên tay ta, còn sự hiểu biết của ta giống như lá ấy trong rừng. Ta muốn truyền dạy tất cả những điều hiểu biết của ta cho các ngươi, nhưng chỉ e các ngươi không dung nạp nỗi ».

Thật vậy, có những câu nói, hay lời dạy của Đức THẾ-TÔN đã hơn 2.500 năm mà chúng sinh vẫn chưa thấu hiểu hết. Chẳng hạn như mới sinh ra, Thái tử SỸ-ĐẠT-TA đã nói: “Thiên thượng, Thiên hạ duy ngã độc Tôn”. Và sau khi tu hành đắc Đạo trở về cõi Thiêng-liêng hằng sống, Đại chơn linh Đức Phật THÍCH-CA đã hòa nhập vào Đại linh quang của Đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, tức là Ngôi THÁI-CỰC, mà Thánh giáo Đạo CAO-ĐÀI đã xác nhận:

“NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ viết CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT giáo Đạo Nam phương. NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT thị Ngã, THÍCH-CA MÂU-NI thị Ngã, THÁI-THƯỢNG NGƯƠN-THỈ thị Ngã kim viết CAO-ĐÀI”.

Mà hễ có Ta thì có chúng sinh, chúng sinh tu học đắc Đạo thành Phật, thành Trời, được chứng minh qua lời dạy:

“Thầy là các con, các con là Thầy” và “Có các con mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật”.

Và trong nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ có sự thờ phượng được sắp đặt như sau:

* Trục Hoành (Chính, nằm ngang):

- Ngôi cao nhất ở chính giữa trung tâm là PHẬT vị: có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA, đại diện cho toàn thể các vị Phật.

- Ngôi cao nhất ở phía trái (ngoài nhìn vào) là TIÊN vị: có Đức THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ (tiền kiếp Đức LÃO-TỬ), đại diện cho Quần Tiên Hội.

- Ngôi cao nhất ở phía phải là THÁNH vị: có Đức VĂN-TUYÊN KHỔNG-THÁNH (Đức Khổng-Tử), đại diện cho tất cả chư Thánh. Đó là ba ngôi vị cao nhất gọi là TAM-GIÁO TỔ SƯ, mà Đức PHẬT quản quyền tất cả hệ thống tung hoành, trái phải, trên dưới.

* Trục Hoành phụ (nằm ngang thấp hơn trục Hoành chính 1 bậc): có:

- Vị thế chính giữa TIÊN vị: có Đức THÁI-BẠCH KIM TINH, tức là ngay dưới vị trí Đức Phật THÍCH-CA.

- Vị thế phía trái (ngoài nhìn vào): có Đức QUAN-ÂM BỒ-TÁT, tức ngay dưới vị trí của Đức LÃO-TỬ.

- Vị thế phía phải: có Đức QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN, tức ngay dưới vị trí Đức KHỔNG-PHU-TỬ. Ba Đấng ở Trục Hoành phụ gọi là TAM-TRẤN OAI-NGHIÊM, phụ tá cho ba Đấng TAM-GIÁO TỔ SƯ.

* Trục Tung (thẳng dọc, từ trên xuống dưới):

- Vị trí cao nhất là       : Đức Bổn-Sư Thich-Ca ở phẩm vị PHẬT ;

- Vị trí thứ hai là : Đức Thái-Bạch Kim Tinh ở phẩm vị TIÊN ;

- Vị trí thứ ba là  : Đức Gia-Tô Giáo Chủ (Chúa JéSus) ở phẩm vị THÁNH ;

- Vị trí thứ tư là   : Đức Khương-Thượng Tử-Nha, ở phẩm vị THẦN ;

- Vị trí thứ năm là  : Tinh hoa của con người, ở phẩm vị NHƠN, vị thế thấp nhất của trục Tung.

Tóm lại, PHẬT vị là Ngôi cao nhất (các vị Phật, từng là con người, sau đó tu hành đắc quả vị, là ngôi cận kề THIÊN vị, chính là ngôi TRỜI (Vô-Vi) không có âm thinh sắc tướng, mà 2.549 năm qua chỉ có Đức Phật BỔN SƯ THÍCH-CA đã đến đích cuối cùng, và đã hòa nhập vào ĐẠI-LINH-QUANG của Đấng CHÍ-TÔN THƯỢNG-ĐẾ tối cao Chưởng quản 72 Thái dương hệ trong đó có 72 địa cầu, mà địa cầu chúng ta đang sinh sống mang số thứ tự là 68; ngoài ra còn có 36 cõi Trời, và ba ngàn thế giới khác nữa.

Qua lời dạy của Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA đã ban truyền những điều quý báu cho các thế  hệ chúng ta:

1) Tinh thần tự chủ, nói một cách khác là phải tự lực tự cường, và có lập trường (quan điểm) riêng của mình, không bị lệ thuộc người khác.

2) Tu học và hành đạo phải thuận tùng Thiên lý, tức là phải tự nhiên, bình thản, trung hòa, tức là không gượng cầu, áp đặt cũng như chẳng thái quá hay bất cập.

Muốn tu Phật Đạo, trước hết phải cố gắng làm tròn Nhơn đạo, tức là phải lấy trung hiếu làm nền tảng, nam thì có thêm Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), còn Nữ lại có Tứ đức (công, ngôn, dung, hạnh) và luôn bổ trợ cho nhau trong đời sống thường ngày của mình. Vì hầu hết mọi người chúng ta đều là Tiểu chơn linh, còn Đức THẾ-TÔN là Đại chơn linh, bổn phận Nhơn đạo (Hiếu để, liêm sỉ, thủy chung …) của chúng ta là vừa tầm, thậm chí đa số người cũng chưa làm tròn, có đâu đạt được cảnh giới Siêu linh tịch diệu của cõi Đại Niết-Bàn, nơi Đức Phật ngự. Bởi thế, Đức THẾ-TÔN giáng trần, Ngài đi thẳng một con đường giải thoát duy nhất, đó là Đại hiếu với Trời Đất, và khi đắc thành Phật vị Ngài mới quay lại cứu rỗi vạn linh sanh chúng trong đó có Hoàng tộc, Cửu huyền Thất tổ,… Quốc gia và Dân tộc,…

Ở Việt-Nam ta, có biết bao nhiêu người chưa hoàn thành Nhơn đạo, nhưng vẫn đắc Thần, Thánh, Tiên vị,... như: Nữ Thần TRƯNG-TRẮC, Đại Thần TRẦN-BÌNH-TRỌNG, Thánh Gióng PHÙ-ĐỔNG THIÊN-VƯƠNG, Đức Thánh TRẦN-HƯNG-ĐẠO,… vì các Đấng này cùng theo con đường tiến hóa của vũ trụ (về mặt Tâm linh), tuy rằng các vị ấy chỉ trung quân, ái quốc mà thôi, nhưng trong chữ Trung ấy đã hàm chứa chữ Hiếu nghĩa liêm sỉ,… của Đạo làm Người rồi.

3) Đức Phật giảng pháp cho các Tăng sỹ thời ấy, tuy chưa nghe được lời dạy, mà cũng đã học được: tính nhẫn nại, sự chịu đựng. Đó là bài học thật quí giá cho mọi người chúng ta vậy.

4) Tất cả vạn vật trong cõi trần này đều có sự sắp đặt của Trời Đất, mà cổ nhân đã dạy: “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định”, và NGUYỄN-DU Tiên sinh cũng đã đề cập đến:

                                              “Gẫm hay muôn sự tại Trời,

                                    Trời kia đã bắt làm người có thân,

                                              Bắt phong trần, phải phong trần,

                                    Cho thanh cao, mới được phần thanh cao”.

Đó chính là số phận (định mệnh), hay nhơn duyên (nguyên nhân, hậu quả) của mình tạo nên thì vòng luân hồi sinh tử quay trở lại (Thiên Địa tuần hườn chu nhi phục thỉ), mình lại trút đổ cho Trời Đất, thì Trời Đất cũng chẳng nói, chẳng rằng, nhận mà cũng không nhận vậy.

5) Cuối cùng là bài học vô cùng quí giá. Đó là sự đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái tốt với cái xấu, điều thiện với điều ác, việc chánh với việc tà,… và gay gắt nhất là giữa một khối khổng lồ “danh, lợi, tình, quyền” với “tinh thần đạo đức”, mà hậu duệ của Đức THẾ-TÔN: LA-HẦU-LA đã chiến thắng được chính mình, không bị cám dỗ bởi tột cùng của “vinh hoa phú quý ở trần gian, là nhờ câu nói bất hủ của Đức ĐẲNG-GIÁC MÂU-NI: “Thắng cả vạn quân giặc, không bằng tự thắng chính mình”./.

Mùa Phật Đản Ất-Dậu 2549 (2005) * Nguyễn-Thanh-Tú (Sưu tầm)

scroll back to top

Các bài viết khác...

Trang 5 trong tổng số 5 trang

5
Tiếp theo
Cuối
NAM - THÀNH THÁNH THẤT Nguyên Thánh thất Cầu - Kho
124 - 126 Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP.HCM ĐT: 08.3902.1568 - 0933.323.138 - 0933.333.138
Email: namthanhthanhthat@gmail.com - chidat32@gmail.com